Thứ năm, 24/05/2018 | 06:45 Chào mừng đến với website trường Cao đẳng Y tế Tiền Giang. Hotline: 0888.36.16.36
Lịch sử phát triển Y học gia đình có vai trò đóng góp của Trường CĐYT Tiền Giang
[Thứ năm, 01-03-2018 ]
Với vai trò của chuyên ngành YHGĐ, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã nhận định: “BSGĐ đóng vai trò trung tâm trong việc đạt được các mục tiêu về chất lượng, chi phí - hiệu quả và tính công bằng trong các hệ thống CSSK”

1. Lịch sử phát triển chuyên ngành YHGĐ trên thế giới:

Chuyên ngành YHGĐ bắt đầu xuất hiện từ những năm 1960 ở các nước phát triển, nhằm đáp ứng sự thay đổi mô hình bệnh tật, nhu cầu sử dụng dịch vụ y tế của người dân (trong bối cảnh kinh tế phát triển) cũng như sự phân mảnh trong tổ chức của hệ thống y tế.

Về bản chất, YHGĐ là một chuyên khoa lâm sàng đa khoa, chú trọng phát hiện và điều trị các bệnh, cấp cứu thường gặp tại cộng đồng, quản lý sức khỏe cho cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng.

Với sáu nguyên lý cơ bản của chuyên ngành YHGĐ là CSSK toàn diện, liên tục, phối hợp, dự phòng và nâng cao sức khỏe, hướng gia đình và hướng cộng đồng, chuyên ngành YHGĐ đã chứng tỏ hiệu quả trong việc cung cấp các dịch vụ CSSK toàn diện có chất lượng với mức chi phí hợp lý và khả năng dễ tiếp cận.

 Với những lợi thế đó, chuyên ngành YHGĐ đã từng bước phát triển và nhân rộng ở nhiều nước trên thế giới: Hoa Kỳ, Canada, Úc, Anh, Thụy Điển, Bỉ, Pháp, Singapore, Ấn Độ, Philippine, Hồng Kông, Hàn Quốc, Nhật Bản, Đài Loan, Thái Lan, Indonesia, Thổ Nhĩ Kỳ, Nga, Estonia… Với những nước đang phát triển, Braxin và Cuba là những ví dụ điển hình chứng minh hiệu quả CSSK của việc phát triển chuyên ngànhYHGĐ đã mang lại tình trạng sức khỏe người dân tương đương với các nước có nền kinh tế phát triển.

2. Lịch sử phát triển chuyên ngành YHGĐ tại VN:

2.1 Chủ trương của Đảng và Chính phủ đối với công tác CSSK:

     CSSK nhân dân là một trong những trọng tâm ưu tiên trong chính sách của Đảng và Nhà nước ta. Năm 2005, Nghị quyết 46 của Bộ Chính trị đặc biệt nhấn mạnh kiện toàn và nâng cao chất lượng hoạt động của mạng lưới y tế cơ sở là một nội dung quan trọng trong định hướng chiến lược CSSK toàn dân. Năm 2015, Thủ tướng Chính phủ đã kết luận tại cuộc họp về thực hiện Đề án giảm tải bệnh viện, việc phát triển thí điểm mô hình BSGĐ là một trong các giải pháp giúp giảm tải bệnh viện đã được đề cập tới (Thông báo số 99/TB-VPCP ngày 26/3/2015).

2.2  Sự thay đổi mô hình bệnh tật và nhu cầu CSSK:

      Gánh nặng của các bệnh không lây nhiễm cùng với sự xuất hiện và diễn biến khó lường của một số dịch bệnh mới nổi làm cho nhu cầu CSSK của người dân ngày càng tăng. Nhóm bệnh không lây nhiễm đã chiếm tới gần ¾ (71%) tổng gánh nặng bênh tật (12,3 triệu DALYs vào năm 2008).

- Sự già hóa dân số, gia tăng các bệnh không lây nhiễm làm cho nhu cầu CSSK tăng. Khi tuổi càng cao, sức khỏe giảm, có nguy cơ cao mắc các bệnh mạn tính và đối diện với nguy cơ tàn phế nên nhu cầu CSSK càng lớn với chi phí điều trị ngày càng cao.

      Hiện nay, nhu cầu sử dụng dịch vụ y tế của người dân cũng đã có những thay đổi, không chỉ dừng lại ở việc khám, điều trị cho người bệnh tại các cơ sở y tế mà còn đòi hỏi phải được tư vấn, dự phòng và nâng cao sức khỏe cho cả người khỏe mạnh, quản lý theo dõi các bệnh mạn tính tại cộng đồng. Bên cạnh đó, tình trạng quá tải tại các bệnh viện tuyến trên đòi hỏi phải có những giải pháp thích hợp để tăng cường khả năng phân loại, xử trí và điều trị cũng như dự phòng bệnh tật ngay tại tuyến y tế cơ sở.

2.3 Thực trạng của hệ thống y tế và sự cần thiết đổi mới:

      Trong hơn 20 năm qua, hệ thống cung ứng dịch vụ y tế vốn được vận hành theo cơ chế bao cấp trong một thời gian dài, đang từng bước đổi mới theo hướng xã hội hóa, đa dạng hóa các nguồn lực đầu vào cũng như các hình thức cung ứng dịch vụ. Do tác động của các chính sách kinh tế xã hội cũng như chính sách và cơ chế mới trong lĩnh vực y tế, hệ thống cung ứng dịch vu y tế ở nước ta đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, cải thiện đáng kể tình trạng sức khỏe của người dân. Bên cạnh những thành tựu ấy, mạng lưới cung ứng dịch vụ y tế của nước ta  cũng bộc lộ nhiều khó khăn, hạn chế và hàng loạt vấn đề cần được giải quyết, đổi mới:

- Sự mất cân đối của hệ thống cung ứng dịch vụ y tế:

. Quá tải ở tuyến trên, dưới tải ở tuyến dưới.

. Mất cân đối giữa lĩnh vực dự phòng và điều trị.

. Mất cân đối giữa dịch vụ CSSKBĐ với dịch vụ bệnh viện (chăm sóc chuyên khoa).

. Mất cân đối trong phân bổ nguồn lực giữa tuyến trên và y tế cơ sở.

. Mất cân đối trong phân bổ nhân lực y tế giữa khu vực thành thị và nông thôn.

- Sự phân mảnh trong tổ chức cung ứng dịch vụ, chưa thực hiện tốt chăm sóc phối hợp, lồng ghép, liên tục.

. Hệ dự phòng và điều trị gần như tách rời về cả tổ chức, nhân lực cũng như kinh phí; thiếu sự kết nối, phối hợp.

. Các cơ sở thực hiện CSSK hoạt động khá độc lập và tập trung nhiều vào điều trị cho các cá nhân tại các cơ sở y tế hơn là chăm sóc, nâng cao sức khỏe, quản lý và theo dõi tại cộng đồng.

. Thiếu sự chia sẻ thông tin giữa các cơ sở y tế; hệ thống chuyển tuyến còn bất cập, thiếu điều kiện cần thiết để chia sẻ thông tin về người bệnh giữa các tuyến và các cơ sở y tế.

- Hiệu suất của cả hệ thống chưa cao:

. Công tác CSKBĐ và mạng lưới y tế cơ sở là các yếu tố mang lại hiệu quả - chi phí cao đối với cả hệ thống chưa được phát triển đúng mức.

. CSSK ngoài cơ sở y tế (tại cộng đồng và gia đình) chưa được chú trọng.

. Sử dụng quá ít dịch vụ ngoại trú tại y tế tuyến cơ sở và quá nhiều dịch vụ nội trú cũng như ngoại trú ở cơ sở y tế tuyến trên.

. Tình trạng chỉ định nhiều xét nghiệm không cần thiết.

. Tỷ lệ nhập viện cao không cần thiết… dẫn đến lãng phí lớn (theo Ngân hàng thế giới: tỷ lệ nhập viện cao không cần thiết tại VN khoảng 20%).

. Hiệu suất sử dụng các nguồn lực (nhân lực, tài chính, cơ sở vật chất) còn hạn chế.

- Năng lực cung ứng dịch vụ của mạng lưới y tế cơ sở còn hạn chế, chất lượng dịch vụ thấp và chưa được người dân tin cậy:

. Các TYT xã mới chỉ cung ứng được khoảng 52% dịch vụ khám chữa bệnh theo phân tuyến kỹ thuật của Bộ Y tế.

. Tỷ lệ xử trí đúng các bệnh thường gặp còn thấp (30-40%).

. Nhân lực y tế ở tuyến cơ sở thiếu về số lượng và yếu về chất lượng. Còn hơn 20% TYT xã không có Bác sĩ. Tình trạng khó thu hút và duy trì nhân lực y tế ở tuyến YTCS đang nổi cộm, nhất là ở nông thôn và miền núi.   

. Việc quản lý các bệnh không lây nhiễm, bệnh mạn tính đang vượt quá năng lực của đội ngủ cán bộ y tế ở TYT xã.

. Chất lượng dịch vụ y tế ở tuyến cơ sở còn thấp do sự hạn chế của các yếu tố đầu vào của chất lượng dịch vụ (nhân lực, trang thiết bị, cơ sở vật chất…).

. Quản lý chất lượng và hỗ trợ chuyên môn kỹ thuật từ tuyến trên còn yếu.

- Tính công bằng trong tiếp cận dịch vụ y tế còn hạn chế:

. Có sự chênh lệch rõ rệt về mức độ tiếp cận và sử dụng dịch vụ y tế giữa các nhóm mức sống.

. Các chỉ số sức khỏe cơ bản ở nhóm nghèo thấp hơn nhóm có mức sống cao hơn.

. Tỷ trọng chi từ tiền túi của hộ gia đình cho y tế còn cao (khoảng 40% năm 2012).

- Việc cập nhật thông tin y tế, đào tạo liên tục cho cán bộ y tế tuyến cơ sở: 

       Hiện nay, phần lớn các bác sĩ công tác tại tuyến y tế cơ sở đều là bác sĩ đa khoa, ít có điều kiện học tập nâng cao trình độ chuyên môn. Với nhu cầu nâng cao trình độ, buộc các bác sĩ này phải lựa chọn theo đuổi một chuyên khoa lâm sàng hẹp không phù hợp với môi trường, điều kiện và yêu cầu khám chữa bệnh đa khoa, thực hiện công tác phòng bệnh, nâng cao sức khỏe tại tuyến y tế cơ sở. Phát triển chuyên ngành YHGĐ sẽ góp phần bổ sung số lượng cán bộ y tế có trình độ lâm sàng đa khoa cho tuyến cơ sở, nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh ở tuyến cơ sở, tăng khả năng tiếp cận với các dịch vụ y tế cho người dân, đặc biệt là nhóm người nghèo và góp phần giảm tải cho các cơ sở y tế tuyến trên. Đây là yêu cầu cấp bách và là một giải pháp mang tính đột phá nhằm nâng cao chất lượng CSSKBĐ ở tuyến cơ sở theo hướng công bằng và hiệu quả.  

3. Qúa trình phát triển chuyên ngành YHGĐ tại VN

     Qua 20 năm xây dựng và phát triển chuyên ngành YHGĐ tại VN đã triển khai được nhiều hoạt động.

. Năm 2000, Dự án phát triển mạng lưới BSGĐ ở VN với đầu mối điều phối là Trung tâm Nghiên cứu, đào tạo YHGĐ và cộng đồng (năm 2007 đổi tên thành Bộ môn YHGĐ) - Trường Đại học Y Hà Nội đã được Bộ Y tế phê duyệt. Cùng tham gia Dự án có Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh và Trường Đại học Y Dược Thái Nguyên. Dự án có mục tiêu chính là đào tạo bác sĩ chuyên khoa I chuyên ngành YHGĐ và xây dựng các Trung tâm/Bộ môn YHGĐ tại các trường đại học Y Dược phục vụ công tác đào tạo.

. Ngày 26/4/2005, Hội BSGĐ VN được thành lập theo Quyết định số 43/2005/QĐ-BNV của Bộ Nội vụ.

. Ngày 22/3/2013, Bộ Y tế phê duyệt Đề án xây dựng và phát triển mô hình phòng khám BSGĐ giai đoạn 2013-2020 (Quyết định số 935/QĐ-BYT).

. Ngày 22/5/2014, Bộ Y tế ban hành Thông tư số 16/TT-BYT hướng dẫn thí điểm mô hình BSGĐ và phòng khám BSGĐ tại một số tỉnh/ thành phố.

. Tại Tiền Giang, tháng 7/2014 triển khai nghiên cứu đề tài: “Xây dựng mô hình khám chữa bệnh Bảo hiểm Y tế tại Phòng khám đa khoa và Trạm Y tế theo hướng Bác sĩ Gia đình”. Bên cạnh quan điểm ủng hộ mô hình mới, vẫn còn không ít ý kiến chưa đồng thuận về việc triển khai mô hình BSGĐ tại Tiền Giang, nghi ngờ về hiệu quả của mô hình mới, quan ngại về tính khả thi của đề tài và khả năng nhân rộng mô hình. Do đó, chúng tôi xây dựng mô hình này ngoài việc nghiên cứu thực tế về triển khai khám chữa bệnh ban đầu BHYT tại Trạm Y tế và PKĐK theo hướng YHGĐ, nhằm nâng cao chất lượng khám chữa bệnh ban đầu BHYT, thu hút người dân đăng ký khám chữa bệnh ban đầu BHYT tại tuyến y tế cơ sở, góp phần giảm tải BV; qua đó còn khẳng định tính cấp thiết và khả thi của mô hình này tại Tiền Giang - một tỉnh thuộc khu vực đồng bằng sông Cửu Long. Kết quả thực hiện bước đầu đã được Bộ Y tế công nhận và chỉ đạo Ngành Y tế Tiền Giang nhân rộng mô hình phòng khám BSGĐ.

       Đến thời điểm tháng 1/2018, Sở Y tế Tiền Giang đã phối hợp cùng Đại học Y Dược TP. HCM, Đại học Y Dược Cần Thơ, Hội Y học Tiền Giang, Trường Cao đẳng Y tế Tiền Giang đào tạo hơn 300 BSGĐ (đã cấp chứng chỉ hành nghề YHGĐ) và cập nhật kiến thức và kỹ năng YHGĐ cho 80 Y sĩ, Điều dưỡng, Hộ sinh, Dược sĩ công tác tại tuyến y tế cơ sở của Tiền Giang.

. Đến ngày 27/4/2016, Bộ Y tế phê duyệt Kế hoạch nhân rộng và phát triển mô hình phòng khám BSGĐ tại VN giai đoạn 2016-2020 (Quyết định số 168/QĐ-BYT). Một số tỉnh triển khai thí điểm mô hình phòng khám BSGĐ như TP. Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Tiền Giang, Khánh Hòa, Thừa Thiên Huế… Kết quả khảo sát bước đầu của Cục quản lý khám chữa bệnh - Bộ Y tế cho thấy chất lượng khám, chữa bệnh đã được nâng cao, cải thiện mức độ hài lòng của người bệnh đối với các dịch vụ được cung cấp tại tuyến y tế cơ sở thực hành theo nguyên lý YHGĐ.

     Kinh nghiệm và chuyên môn của BSGĐ khác biệt so với các bác sĩ thuộc các chuyên khoa khác. Quá trình thực hành các BSGĐ phải đối mặt với một số lượng lớn các vấn đề thường gặp trong CSSKBĐ và các BSGĐ cần lồng ghép các chăm sóc lâm sàng, dự phòng và hướng dẫn tự chăm sóc bản thân. Điều này liên quan mật thiết đến công tác đào tạo bác sĩ và nhấn mạnh tầm quan trọng của việc huấn luyện các BS đa khoa trong môi trường cộng đồng - nơi mà họ sẽ gặp người bệnh với những vấn đề sức khỏe mà họ phải xử lý được trong tương lai thực hành của mình.

      Với vai trò của chuyên ngành YHGĐ, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã nhận định: “BSGĐ đóng vai trò trung tâm trong việc đạt được các mục tiêu về chất lượng, chi phí - hiệu quả và tính công bằng trong các hệ thống CSSK”. Năm 2008, WHO đã tái khẳng định cam kết và kêu gọi các quốc gia thành viên hỗ trợ phát triển công tác CSSKBĐ như một nền tảng để có được hệ thống CSSK hiệu quả, toàn diện, lồng ghép và chuyên ngành YHGĐ là hạt nhân của hệ thống đó./.
TS.BS NGUYỄN HÙNG VĨ
 
THƯ VIỆN ẢNH
Click để vào thư viện ảnh Click để vào thư viện ảnh Click để vào thư viện ảnh Click để vào thư viện ảnh Click để vào thư viện ảnh Click để vào thư viện ảnh Click để vào thư viện ảnh Click để vào thư viện ảnh Click để vào thư viện ảnh Click để vào thư viện ảnh Click để vào thư viện ảnh Click để vào thư viện ảnh Click để vào thư viện ảnh Click để vào thư viện ảnh Click để vào thư viện ảnh

LIÊN KẾT WEBSITE

LƯỢT TRUY CẬP
Đang xem: 98
Hôm nay: 1,135
Hôm qua: 2,209
Tổng lượt khách: 3,279,516